Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thảo dược làm giảm stress

Stress là một tình trạng cố gắng quá mức chịu đựng của con người, stress làm mất đi sự cân bằng tâm, sinh lý của cơ thể, con người luôn phải “gồng” mình lên, nghĩa là phải tự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh mới. Theo y sinh học phân tử , stress liên quan mật thiết với quá trình perocide hóa ở màng tế bào. Lượng gốc tự do sản sinh nhiều là nguyên nhân của nhiều bệnh trong đó có bệnh do stress.

Thảo dược làm giảm stress 1Nấm linh chi.
Tính thích nghi với ngoại cảnh chính là khả năng của con người chống lại các stress trong cuộc sống. Theo các nhà bảo vệ sức khỏe tâm thần thì những nỗ lực chủ quan, khả năng rèn luyện nhân cách của mỗi cá thể là yếu tố cơ bản trong việc phòng, chống, hạn chế tác động của stress. Tuy nhiên, vai trò của thuốc cũng rất quan trọng bởi những hoạt chất có tác dụng làm tăng tính thích nghi của con người với ngoại cảnh là những chất có khả năng chống ôxy hóa. Tác dụng của dược liệu làm tăng tính thích nghi này còn thể hiện ở khả năng làm tăng độ bền vững của màng tế bào, đẩy mạnh khả năng sử dụng glucoza, làm tăng hoạt độ men glucoza-6-phosphat dehydrogenaza, tăng lượng NADPH là chất cho hydro cần thiết để dập tắt phản ứng, giảm thiểu một cách tích cực sự sản sinh các gốc tự do. Những dược liệu có khả năng chống được stress bao gồm:

Thảo dược làm giảm stress 2Nhân sâm.

Nhân sâm- một vị thuốc quý, có vị ngọt hơi đắng, tính ấm, quy kinh tỳ, phế. Thành phần hóa học chủ yếu gồm hỗn hợp các saponin (ginsenoid), các hợp chất fenolic, dẫn chất polyacetylen, polysaccharide, protein, các chuỗi acid amin, các vitamin B1, B2, các enzym và phytosterol... tất cả tương tác để cùng kiểm soát các chức năng sinh lý của cơ thể nhằm đưa cơ thể trở lại trạng thái hoạt động bình thường. Nhân sâm đại bổ nguyên khí, tăng cường sức lực, giữ cho tinh lực khỏi hao tổn, hư thoát, ích huyết, sinh tân, an thần, giúp tăng trí nhớ. Nhân sâm đứng đầu các loại thuốc bổ, làm tăng sức đề kháng chống lại bệnh tật. Đặc biệt nhân sâm Việt Nam Panaxginsen VN K5 vùng Ngọc Linh - Tây Nguyên có tác dụng bảo vệ màng tế bào, chống ôxy hóa, chống lão hóa, giảm stress rất tốt.

Ngũ gia bì gai hay còn gọi ngũ gia bì hương, cây thường mọc ở kẽ núi đá vùng Hòa Bình, Sơn Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa. Bộ phận dùng là vỏ cây và rễ. Hoạt chất chính là tinh dầu, saponin triterpen, các acid oleanolic... Ngũ gia bì hương vị cay, tính ấm, quy vào hai kinh can, thận, tác dụng làm mạnh cân, cường cốt, trừ phong thấp, tăng cường sức bền bỉ, dẻo dai, giúp cơ thể tăng khả năng thích ứng với ngoại cảnh, chống lại stress.

Thảo dược làm giảm stress 3Hương nhu tía.

Hương nhu tía có ở khắp nơi trên đất nước ta nhất là vùng đồng bằng, trung du. Thành phần hóa học là tinh dầu, trong đó có eugenol, methyleugenol và beta- caryophyllen... Hương nhu tía vị cay, tính ấm, quy vào hai kinh phế, vị. Có tác dụng tán hàn, giải biểu, kích thích tiêu hóa, ăn ngon miệng, lợi niệu; chữa các chứng cảm mạo, cảm nắng, đau đầu, sốt không có mồ hôi, phù thũng, đau bụng đi ngoài. Đặc biệt, theo tài liệu công bố của Ấn Độ, hương nhu tía còn có tác dụng chống stress mạnh hơn cả nhân sâm và ngũ gia bì hương.

Linh chi - thành phần hoạt chất độc đáo của dược liệu này chính là cấu trúc các nguyên tố vi lượng đủ loại, trong đó một số khoáng tố như germanium, vanadium, crom... được khẳng định là nhân tố quan trọng cho nhiều loại phản ứng chống ung thư, dị ứng, lão hóa, xơ vữa, đông máu nội mạch, giúp điều chỉnh dẫn truyền thần kinh, bảo vệ cấu trúc tế bào. Khác với các loại thuốc bổ thông thường, linh chi hữu ích cho cơ thể hơn nhiều qua kiểu đòn bẩy. Nó một mặt thanh lọc cơ thể một cách toàn diện và đồng bộ qua tác dụng lợi tiểu và lợi mật, một mặt kích thích nhiều chuỗi phản ứng sinh hóa trong cơ thể nhờ vai trò xúc tác của khoáng tố vi lượng. Linh chi có tác dụng điều hòa, củng cố, ổn định các chức năng cơ thể, tăng sức đề kháng, tăng sức dẻo dai, bền bỉ trong lao động trí óc và thể lực, cải thiện quá trình chuyển hóa dinh dưỡng và đặc biệt làm tăng tính thích nghi của con người với ngoại cảnh, chống lại stress.

DSCKI. Phạm Hinh

Bài thuốc trị nhức đầu do thận khí suy tổn

Đau nhức đầu là một triệu chứng thường gặp của nhiều bệnh, do tác nhân bên ngoài (ngoại cảm) hay bên trong cơ thể (nội thương). Theo YHCT, nếu khi đau khi không và đau âm ỉ là do nội thương; nếu kèm theo triệu chứng: xây xẩm, lưng gối đau mỏi hoặc có di tinh, lưỡi đỏ, mạch tế sác là do thận khí suy tổn. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể.

Mẫu lệ (vỏ hàu)

Đau đầu do thận âm hư: Người bệnh có biểu hiện đầu đau trống rỗng, ù tai, hoa mắt chóng mặt, lưng gối yếu mỏi, mất ngủ hay quên, di tinh đới hạ, ngũ tâm phiền nhiệt, ngấy sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, người gầy, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác hoặc huyền tế vô lực. Phép chữa: tư bổ thận. Dùng một trong các bài:

Bài 1: Kỷ cúc địa hoàng hoàn: thục địa 32g, sơn thù 16g, hoài sơn 16g, đơn bì 12g, phục linh 12g, trạch tả 12g, cúc hoa 12g, kỷ tử 12g. Sắc uống. Nếu lưng gối đau mỏi, thêm đỗ trọng 12g, ngưu tất 10g; nam di tinh, nữ đới hạ, thêm tri mẫu 12g, hoàng bá 10g; ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, thêm địa cốt bì 12g, quy bản 12g, long cốt 16g, mai mực 16g; hoa mắt ù tai, thêm ngũ vị tử 8g, từ thạch 12g, thiên ma 12g, trân châu mẫu 12g.

Bài 2: bột sừng nai 20g, thục địa 20g, mẫu lệ 12g, lá sen 16g, cúc hoa 16g, quy bản 16g, mạch môn 12g, mật ong vừa đủ. Sừng nai cắt khúc, bọc bằng cám nếp ẩm, nướng trên bếp khoảng 40 phút, sao cho sừng bở ra là được, đập vụn, bỏ cám; quy bản cạo hết màng trong, đập vỡ, tẩm giấm thanh 2-3 giờ, sao vàng sẫm. Tán bột, luyện với mật ong làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-15g.

Hoài sơn.

Bài 3: ngọc trúc 24g, bạch thược 24g, câu đằng 12g, sơn thù 10g, long cốt 15g, mẫu lệ 15g, toàn yết 6g, quất lạc 6g. Sắc uống.

Đau đầu do thận dương hư: Người bệnh có biểu hiện đau đầu sợ lạnh, sắc mặt trắng nhợt, lưng gối vô lực, chân tay lạnh, đại tiện lỏng, đái ít, phù thũng, chất lưỡi nhạt bệu, ít rêu, mạch trầm tế nhược, nhất là mạch xích bất túc. Phép chữa: ôn bổ thận dương. Dùng một trong các bài:

Bài 1: Thận khí hoàn: thục địa 32g, sơn thù 16g, hoài sơn 16g, đơn bì 12g, phục linh 12g, trạch tả 12g, phụ tử 4g, nhục quế 4g. Sắc uống. Nếu lưng gối yếu mỏi, thêm tục đoạn 12g, cẩu tích 12g; đầu ngón chân ngón tay không ấm, thêm tế tân 3g, can khương 8g; đại tiện lỏng, thêm nhục đậu khấu 12g, ngũ vị tử 8g; phù thũng đái ít, thêm xa tiền tử 12g, ngưu tất 16g; dương nuy, thêm dâm dương hoắc 12g, ba kích 12g.

Bài 2: bột sừng nai 20g, thục địa 20g, mẫu lệ 12g, lá sen 16g, cúc hoa 16g, ba kích 12g, nhục quế 4g, mật ong vừa đủ. Sừng nai cắt khúc, bọc bằng cám nếp ẩm, nướng trên bếp khoảng 40 phút, sao cho sừng bở ra là được, đập vụn, bỏ cám. Tán bột, luyện với mật ong làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-15g.

Bài 3: củ mài sao vàng 20g, khiếm thực sao vàng 20g, dây tơ hồng sao vàng 20g, đậu đen sao chín 40g, cúc hoa 20g, thục địa 40g. Sắc uống.

Lương y Thảo Nguyên

Mã đề nước chữa phù thũng

Mã đề nước còn có tên gọi khác là hẹ nước, vợi. Là cây cỏ thủy sinh, mọc trong ao hồ. Gốc và rễ ngập trong bùn. Thân ngắn hoặc không có thân. Lá mềm hình bầu dục, mọc thành cụm ở gốc. Hoa lưỡng tính mọc trên cuống dài, màu trắng, tím nhạt hoặc trắng đục. Quả hình cầu. Cây thường mọc thành đám ruộng ở các ao hồ nước nông, kênh rạch, bờ suối, ruộng trũng có nước quanh năm. Mã đề nước không chỉ dùng làm rau ăn (thân và lá rửa sạch, luộc qua rồi xào hoặc nấu canh ăn) mà còn là vị thuốc tốt. Bộ phận dùng làm thuốc là lá, thân rễ (thường gọi là củ) bỏ hết rễ, rửa sạch rồi phơi sấy khô. Theo Tây y, mã đề nước có tác dụng giảm mỡ máu, hạ huyết áp, chữa béo phì và tăng huyết áp. Còn trong Đông y vị thuốc từ mã đề nước gọi là trạch tả. Trạch tả có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh thận, bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi niệu, long đờm dùng chữa các bệnh: phù thũng do thận, ho do viêm họng, giúp mát gan, lợi tiểu...

Chữa phù thũng do thận: Lá trạch tả 30g, thân cây sậy 100g, râu ngô 100g. Sắc với 3 bát nước, còn 1 bát chia uống hai lần trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa và tối. Dùng trong 7-10 ngày. Hoặc trạch tả, bạch phục linh, trư linh, hạt mã đề mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Mã đề nước.

Chữa ho do viêm họng: Lá trạch tả 30g, lá húng chanh 30g, gừng tươi 5g. Sắc khoảng 300ml nước còn 50ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Uống trong 5 ngày.

Giúp mát gan: Trạch tả, bạch phục linh, mẫu đơn bì, sơn thù du, mỗi vị 10g, thục địa và hoài sơn mỗi vị 12g. Tất cả sao vàng, tán bột chế thành viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 8 - 10 viên. Uống trong 10 ngày.

Chữa mụn nhọt sưng đau (chưa mưng mủ): Lá trạch tả tươi, lá cây lạc địa sinh căn, mỗi vị 15g. Rửa sạch, để ráo, giã nát đắp nơi mụn nhọt sưng đau. Ngày đắp 2 lần. Thực hiện trong 2 ngày.

Chữa chứng hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu: Trạch tả 12g, sinh địa 15g, long đởm thảo, sơn chi tử, hoàng cầm, sài hồ, mẫu đơn bì, tri mẫu, cúc hoa mỗi vị 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Hoặc trạch tả 15g, bạch truật 6g, cúc hoa 12g. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. uống trong ngày. Dùng trong 7-10 ngày.

Chữa bỏng da thể nhẹ (vết bỏng nhỏ và nông): Lá trạch tả tươi, lá cây lạc địa sinh căn, mỗi vị 30g, rửa sạch, giã nát đắp hoặc chườm nhẹ nơi có vết bỏng. Ngày làm 2 lần. Bài thuốc này giúp giảm đau và nhanh hồi phục khi bị bỏng.

Giúp hạ sốt do cảm nóng: Lá trạch tả 20g, cỏ mần trầu 25g, lá tre 30g. Các vị thuốc trên đem sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm. Dùng trong 2 ngày.

Bác sĩ Hoàng Minh

Rau khúc nếp giải cảm trị ho

Rau khúc nếp để làm thuốc thu hái tốt nhất vào mùa đông xuân, tháng giêng trở ra. Thu hái rau non trước khi cây ra hoa, rửa sạch dùng tươi hoặc sấy khô. Trong dân gian, ngoài công dụng làm bánh khúc ăn, thường dùng lá khúc để giải cảm, chữa ho, viêm phế quản.

Rau khúc nếp.

Theo Đông y, rau khúc có vị ngọt, tính bình, vào 3 kinh phế, tỳ và vị. Có công dụng khu phong tán hàn, hóa đàm chỉ khái, lợi thấp, giải độc. Có công dụng trị cảm mạo phong hàn, ho nhiều đờm, hen suyễn... Dùng ngoài chữa phong chẩn mẩn tịt, tan huyết ứ, chấn thương sưng đau.

Chữa cảm lạnh, sốt, ho: rau khúc khô 20g (hoặc 40g tươi) sắc nước uống trong ngày; Có thể thêm tía tô, kinh giới, mỗi thứ 10g, cùng sắc uống.

Chữa viêm họng, hen suyễn: rau khúc khô 30g, gừng 5g. Sắc uống; Hoặc dùng bài: Rau khúc khô 30g, ma hoàng 6g, khoản đông hoa 9g, hạnh nhân 9g, bạch tiền 9g, sắc uống.

Chữa ho nhiều đờm: rau khúc khô 20g, đường phèn vừa đủ, sắc nước uống trong ngày.

Chữa viêm phế quản mạn tính: Rau khúc khô 30g, khoản đông hoa, lá tì bà, mỗi vị 10g. Sắc uống.

Chữa tăng huyết áp: rau khúc khô 12g, câu đằng 9g, tang ký sinh 9g. Sắc uống trong ngày.

Chữa khí hư bạch đới: rau khúc 15g, cỏ seo gà 15g, đăng tâm thảo 15g, cỏ xước 12g. Sắc uống trong ngày (chú ý: không uống thuốc trong ngày có kinh nguyệt).

Chữa gân cốt đau mỏi, chân và đầu gối sưng thũng: rau khúc khô 30-50g, sắc uống như nước trà hàng ngày.

Thuốc dùng ngoài:

Chữa đau nhức do bệnh gút, thấp khớp, do chấn thương va đập, mụn nhọt: rau khúc (lá và cành non) tươi, rửa sạch, giã nát đắp vào chỗ sưng đau, dùng gạc y tế băng cố định lại.

DS. Đặng Văn Nam

Thuốc chữa bệnh từ cây mía

Ở Việt Nam, nhiều gia đình ngày Tết thường dựng cạnh bàn thờ những cây mía cao, bậm, đỏ, bóng nguyên cả cây còn lá xanh như trang trí đào, quất nhưng có ý nghĩa tâm linh là cây “lộc”. Ngoài ra, mía còn rất có ích đối với sức khỏe mọi người, được mệnh danh “Thang thuốc phục mạch”.

Theo Đông y, mía vị ngọt dưỡng, đại bổ tỳ âm, dưỡng huyết cường gân cốt, an thần trấn kinh tức phong, tả phế nhiệt, lợi yết hầu, hạ đờm hỏa, chi nôn, hòa vị, tiêu phiền nhiệt. Xin giới thiệu một số công dụng chữa bệnh của mía.

Thuốc chữa bệnh từ cây mía 1Cây mía bổ âm dưỡng huyết, thanh phế nhiệt, chỉ nôn là vị thuốc tốt với sức khỏe con người.

Dưỡng âm, nhuận phế: dùng cho người hay ho, nóng rát cổ, giọng nói yếu. Bách hợp 50g, ngâm nước nấu nhừ sau cho nước mía 100ml và nước củ cải 100ml. Uống trước khi đi ngủ.

Chữa chứng phát nóng, miệng khô, cổ ráo, tiểu tiện đỏ sẻn: nhai mía nuốt nước hoặc hòa nước cơm mà uống.

Tư âm, dưỡng vị, chống khát, chống nôn mửa: nước mía 150ml, nước gừng 5 - 10 giọt. Uống từng ngụm một.

Nứt kẽ môi miệng: lấy nước mía bôi ngoài uống trong. Hoặc vỏ mía đốt tồn tính, trộn ít mật ong bôi vào.

Người gầy (hốc hác) da tóc khô: rau má xay 200ml, nước dừa xiêm 1 quả, nước mía 50ml. Có thể thêm mật ong, sữa ong chúa để uống. Uống trước khi đi ngủ.

Chữa người gầy: lấy 1 lít nước mía nấu kỹ với chuối khô (mứt chuối) 200g. Hai thứ nấu sôi, để lửa nhỏ, đập vào 2 quả trứng gà tươi (mới đẻ), ăn nóng. Tuần dùng 3 lần sẽ hiệu quả.

Trẻ em ra mồ hôi trộm: ăn mía, uống nước mía.

Ho, hen do nhiệt, sổ mũi, miệng khô: mía ép giã lấy nước nấu cháo ăn.

Chữa ho gà: mía 3 lóng, rau má 1 nắm, gừng 2 lát. Cho vào 2 bát nước, sắc uống ít một.

Phòng hậu sởi: sắn dây 40g, rau mùi 20g, mía 2 đốt. Dùng 2 bát nước sắc còn 1 bát uống dài ngày trong dịch sởi. Sau sởi: Ép lấy nước mía vỏ đỏ uống.

Giải say rượu: uống nước mía hoặc nhai mía nuốt nước.

Ngộ độc cá nóc: nước mía với nước gừng tươi mỗi thứ một ít (nước mía là chính). Uống để sơ cứu ngay rồi nhanh chóng chuyển bệnh nhân đi bệnh viện cấp cứu kịp thời.

Bs. Phó Thuần Hương

Tác dụng chữa bệnh từ hoa

Là nước nhiệt đới gió mùa với 4 mùa trong năm, nước ta có rất nhiều loài hoa. Hoa không chỉ làm đẹp cho cuộc sống mà đặc biệt, rất nhiều loại còn có tác dụng làm thuốc hữu hiệu, một số loại hoa vẫn được dùng trong đông y như những loại dược liệu quý vì chúng rất hữu ích, an toàn với sức khỏe.

Hoa cúc: có hương thơm dịu nhẹ, chữa được các chứng huyết áp, đau đầu, mờ mắt. Nếu sử dụng chúng hãm với nước chè uống thường xuyên giúp người ta tăng tuổi thọ, lâu bạc râu tóc. Trẻ em ăn uống không tiêu, đầy bụng, hoặc sốt cao có thể dùng hoa cúc hãm với nước sôi uống sẽ mau hết bệnh.

Hoa hồng: có vị ngọt, mùi thơm ngát, tính bình, có công dụng chữa trị các chứng bệnh: ho ra máu, tiểu tiện, lị ra máu bằng cách lấy 10 bông hoa hồng đỏ nấu với một ly đậu đen và một ít đường. Uống 3 lần/ngày trong 3 ngày sẽ khỏi. Để chữa ho cho trẻ nhỏ, dùng cánh hoa hồng trắng chưng với đường phèn, cho trẻ uống ít một sẽ khỏi. Giã chúng với mật ong sẽ chữa được bệnh miệng lưỡi lở loét. Ngoài ra, tinh dầu hoa hồng còn dùng để chữa bệnh đau mắt, đau dạ dày. Hơn nữa, gần đây, các nhà khoa học tìm ra được một dược chất trong tinh dầu hoa hồng có tác dụng ngăn cơn hen phế quản.

Hoa đại (hoa sứ): có mùi thơm nhẹ. Theo Đông y, hoa đại có tác dụng thông phế khí, tiêu đàm, thanh nhiệt, giải độc. Thời xưa, dân gian sử dụng hoa đại phơi khô để dùng làm thuốc chữa ho, kiết lị, đi lỏng. Ngày nay, hoa đại còn được dùng để trị cao huyết áp... Hàng ngày, chỉ cần sử dụng 12 - 20g hoa đại khô, sắc lấy nước uống là có thể trị được bệnh này. Lá hoa đại giã nhỏ đắp vào chỗ đau, chữa chứng bong gân sẽ rất dễ chịu và khỏi dần.

Hoa khế: có vị chua, chát, tính bình có công dụng bổ thận, sinh tinh, nhuận phế tiêu đờm, chữa chứng ho khan, ho có đờm, kiết lị. Nếu bạn bị những chứng bệnh như vậy, lấy hoa khế tẩm nước gừng, sao rồi sắc uống. Lấy 100g hoa khế (loại khế chua), một quả tim lợn 100 - 200g bổ đôi, cho hoa khế vào đầy quả tim rồi buộc lại bằng lạt tre. Lấy thêm hoa khế phủ kín ngoài quả tim, đem đun cách thủy cho tới khi quả tim chín. Ăn tất cả tim, hoa khế một lần vào lúc đói. Sau ba ngày ăn lại một quả như trên. Sáu tháng lại ăn tiếp một đợt hai quả như đợt một, cho đến khi huyết áp xuống bình thường và ổn định mới thôi.

Hoa atisô: chứa protein, lipid, glucid (chủ yếu là inulaza rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường), mangan, sắt, các vitamin A, B1, B2 và vitamin C, giúp ăn ngon, bổ tâm can, lọc máu giải độc. Người ta còn chẻ hoa atisô nhỏ ra, rồi hầm với xương, thịt heo hoặc thịt bò ăn rất tốt.

Hoa mộc miên: (hay còn gọi là hoa gạo) có vị đắng chát, hơi ngọt, tính mát, tác dụng làm se, tiêu viêm, giải độc, sát khuẩn, thông huyết nên đã trở thành dược liệu sử dụng nhiều trong trị liệu. Khi bị ho khạc nhiều đờm do phế nhiệt: lấy 15g hoa gạo, rau diếp cá 15g, tang bạch bì 10g, sắc uống. Trẻ em sốt cao vào mùa hè, có thể lấy 6g hoa gạo, sắc kỹ, chế thêm chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Để chữa mụn nhọt sưng tấy: lấy hoa gạo tươi, giã nát đắp ngày 1 - 2 lần sẽ đỡ đau nhức, chóng khỏi. Chữa tiêu chảy, kiết lị: dùng 20 - 30g hoa gạo thái mỏng, sao vàng, sắc lấy nước uống, ngày 1 thang, chia 2 lần.

BS. Thanh Quy

Gừng

Gừng là quà tặng vô giá của thiên nhiên, ít ai không biết đến gừng, nhất là với các bà nội trợ. Từ lâu các thầy thuốc y học cổ truyền và dân gian đã thấy rằng: tứ mùa ăn gừng có thể phòng được bách bệnh, hay như tục ngữ có câu: “mùa đông ăn củ cải, mùa hạ ăn gừng sẽ không phiền thầy thuốc kê đơn” thực tế gừng không thể chữa được bách bệnh nhưng nó vừa là gia vị không thể thiếu trong cuộc sống vừa là vị thuốc rất tốt chữa các bệnh như cảm mạo, nôn, đầy bụng, đi ngoài lỏng, chân tay lạnh tê bì…

Theo y học cổ truyền, gừng tươi được gọi là sinh khương; gừng khô gọi là can khương; gừng nướng gọi là ổi khương; vỏ gừng gọi là bào khương. Sinh khương có mùi thơm, vị cay tính hơi ấm, vào kinh phế, tỳ vị. Tác dụng tán hàn, phát hãn, giải biểu, ôn trung, chỉ ẩu, hoá đàm, ôn phế, chỉ khái, giải độc, được mệnh danh là thánh dược chỉ ẩu. Thường xuyên ăn gừng có thể chống được bách tà; sinh khương còn có tác dụng điều tiết nhiệt độ cơ thể, mùa đông sinh khương làm ôn ấm huyết dịch làm nhiệt độ cơ thể tăng lên, giúp cơ thể đỡ lạnh; mùa hè sinh khương kích thích lỗ chân lông tán nhiệt, làm hạ nhiệt độ cơ thể xuống khiến cơ thể không sợ nóng.

Phụ nữ trong thời kỳ hành kinh hoặc sau đẻ đều cần gừng để điều hoà nhiệt độ cơ thể; phụ nữ sau đẻ nên cho chút gừng vào thức ăn về sau cơ thể không sợ lạnh, tốt cho đường tiêu hoá. Can khương tân ôn tác dụng hồi dương thông mạch, ôn tỳ hàn. Ổi khương khổ ấm tác dụng ôn tràng vị, ôn huyết phận. Bào khương tính tân lương có tác dụng điều trị phù thũng; phối hợp với tang bạch bì, đông qua bì... điều trị thủy thủng, tiểu ít.

Một số cách dùng gừng chữa bệnh

Cảm lạnh phong hàn nhẹ (biểu hiện sợ lạnh, hắt hơi, sổ mũi, chảy nước mũi trong): 3-4 lát gừng tươi, thêm ít đường uống nóng, ngày uống 3- 4 lần. Sinh khương có tác dụng phát hãn nhẹ nên nếu mồ hôi ra ít thì phối hợp với ma hoàng, quế chi.

Nôn: Sinh khương là vị thuốc chủ yếu trong điều trị chứng nôn do vị hàn hoặc phụ nữ có thai. Nếu do vị nhiệt gây nôn có thể dùng kèm bán hạ chế; hoàng liên.

Giải độc: Sinh khương, tử tô giúp giải độc, dị ứng cua. Sinh khương giảm độc tính của bán hạ, hậu phác.

Hoá đờm, chỉ khái: gừng, đường (lượng bằng 1/2 gừng) đun nước sắc uống từ từ ít một, gừng có tác dụng ôn phế hoá đờm, chỉ khái, đường có tác dụng nhuận phế. Dùng cho trường hợp ho có đờm lâu ngày do hư hàn.

Làm cho ra mồ hôi: 30g tử tô, 9g sinh khương: nấu nước uống tác dụng ra mồ hôi, tán hàn.

Trị gàu, rụng tóc: thường xuyên gội đầu có pha chút gừng có tác dụng trừ gàu, giảm rụng tóc.

Khử mùi hôi, tanh: xát vài lát gừng vài lần vào nách, bàn chân làm giảm mùi hôi nách, hôi chân. Khử mùi tanh, hôi của thức ăn như khi làm thịt ngan, vịt , cá: xát gừng vào làm giảm mùi tanh, hôi.

Giải rượu: nước gừng làm giảm triệu chứng đau đầu, váng đầu do rượu.

Chữa đầy bụng, chậm tiêu, buồn nôn: gừng, hồng táo đun nước uống ngày 2 lần có tác dụng khai vị.

Chữa chứng vị nhiệt: miệng hôi, răng lợi sưng đau, loét, ngứa đau họng: đun nước gừng uống các triệu chứng dần sẽ đỡ.

Lưu ý: gừng có tính tân ôn nên không hợp dùng lượng nhiều, dùng dài ngày nhất là mùa thu vì nó có thể tổn thương phế khí.

TS. Nguyễn Thị Tâm Thuận

Dứa dại hỗ trợ trị sỏi thận

Cây dứa dại còn có tên là dứa gỗ, dứa gai, dứa núi. Là loại cây nhỏ, phân nhánh ở ngọn, cao 2-4m, với rất nhiều rễ phụ. Lá ở ngọn các nhánh, hình dải, dài 1-2m, trên gân chính và 2 bên mép có gai nhọn. Bông mo đực ở ngọn cây, thõng xuống, màu trắng, rời nhau. Hoa rất thơm. Cụm quả tạo thành một khối hình trứng dài 16-22cm, có cuống màu da cam, gồm những quả hạch có góc, xẻ thành nhiều ô.

Cây mọc hoang ở nhiều nơi, thường được trồng làm hàng rào, có nơi để lấy lá dệt chiếu và túi. Người dân nhiều nơi còn dùng đọt non, phần gốc trắng, mềm hoặc cuống lá làm rau ăn và lấy hạt từ quả để ăn. Toàn cây được dùng làm thuốc. Rễ và lá thu hái quanh năm đem về thái mỏng, phơi hoặc sấy khô dùng dần. Thu hái quả vào mùa đông dùng tươi hoặc phơi khô.

Dứa dại phối hợp với cỏ bợ, ngải cứu hỗ trợ điều trị sỏi thận.

Một số đơn thuốc chữa bệnh từ dứa dại:

Chữa cảm lạnh: Lá dứa dại 20 - 30g; gừng, hành, tỏi mỗi vị 20g. Tất cả sắc với 2 bát nước̉ lấy 1/2 bát, uống 1 lần lúc nóng. Uống xong, đắp chăn kín cho ra mồ hôi.

Chữa cảm nóng, nhức đầu: Lá dứa dại 20 - 30g, rau má 40g, cỏ mần trầu 20g, lá tre 20g, lá sắn dây 20g, lá duối 20g. Tất cả sắc với 600ml nước để lấy 200ml. Ngày uống 2 lần.

Hỗ trợ điều trị sỏi thận: Đọt dứa dại 120g, ngải cứu tươi 20g, cỏ bợ 30g, lá phèn đen 10g. Rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống ngày 1 lần. Uống 5-7 ngày. Hoặc: Quả dứa dại, rửa sạch, ngâm cho mềm, để ráo nước bổ nhỏ, thái phiến, sao vàng, cùng với kim tiền thảo, mỗi vị 20g, sắc uống, ngày một thang.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Dùng quả dứa dại khô 20-30g, thái lát mỏng, sắc hoặc hãm uống thay trà trong ngày.

Chữa viêm đường tiết niệu: Rễ dứa dại 16g, trạch tả 12g, kim ngân hoa 16g, cam thảo nam 12g. Tất cả sắc với 4 bát nước để lấy 1 bát rưỡi. Chia 2 lần, uống trước bữa ăn. Dùng 7 - 10 ngày.

Chấn thương bầm tím: Dùng rễ dứa dại, giã nát đắp vào chỗ bị thương rồi băng cố định lại sau 3 giờ thay băng, ngày 1 lần.

Hỗ trợ điều trị viêm gan mạn tính: Quả dứa dại 100g, cây chó đẻ răng cưa 50g, sắc uống ngày một thang.

Lương y Nguyễn Văn Quyết

Thực phẩm giúp hạ huyết áp

Tăng huyết áp là bệnh rất thường gặp ở người trung niên, người cao tuổi và đang ngày càng có xu hướng trẻ hoá và gia tăng, được xem là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Việc kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc và không dùng thuốc mà trong đó dinh dưỡng có vai trò quan trọng làm giảm đột quỵ 35 - 40%, nhồi máu cơ tim 20 - 25% và suy tim hơn 50%. Vì vậy, chúng ta cũng cần chú ý đến những thực phẩm có lợi với bệnh tăng huyết áp.

Một số loại rau quả và gia vị có chứa nhiều chất xơ, kali, calcium và magnesium, là những thứ có lợi trong việc kiểm soát huyết áp. Tùy từng loại, chúng còn có những chất đặc biệt giúp làm giảm huyết áp. Hãy kết hợp những thực phẩm này trong bữa ăn, cũng có thể thay đổi khẩu vị bằng cách chế biến thành nước ép rau quả.

Một bữa ăn nhiều chất xơ rất có hiệu quả trong việc dự phòng và điều trị nhiều dạng bệnh tim mạch trong đó có tăng huyết áp. Các loại thực phẩmnhư rau, yến mạch, pectin trong táo, đậu đỗ, củ gừng, bột hạt ca-ri… có tác dụng cung cấp chất xơ cho cơ thể. Các chất xơ này, ngoài lợi ích chống tăng huyết áp, còn giúp giảm cân, chúng gắn với các kim loại nặng có hại trong cơ thể để thải ra ngoài.

Cần tây: Y học cổ truyền đã sử dụng cần tây trong điều trị tăng huyết áp từ xa xưa. Có một số bằng chứng thực nghiệm cho thấy cần tây rất hữu dụng trong việc làm giảm huyết áp, qua thử nghiệm bằng cách tiêm dịch chiết xuất cần tây vào động vật đã thấy tác dụng hạ huyết áp rõ rệt. Ở người, hiệu quả thấy được trên huyết áp sau một thời gian sử dụng ít nhất bốn cây cần tây mỗi ngày. Hãy thử với cần tây xào thịt bò, nước ép cần tây.

Tỏi: Tỏi là một thứ thuốc diệu kỳ cho tim. Nó có tác dụng có lợi trên hệ tim mạch bao gồm huyết áp. Tỏi có công dụng hạ mỡ máu và hạ huyết áp. Hằng ngày nếu kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm dấm, hay uống 5ml dấm ngâm tỏi thì có thể duy trì huyết áp ổn định ở mức bình thường. Tỏi tương đối dễ sử dụng: cho vào đồ nấu, nước chấm và đặc biệt là tỏi ngâm giấm.

Thực phẩm giúp hạ huyết áp 1Thực phẩm giúp hạ huyết áp 2

Tỏi, Cà chua - Những thực phẩm giúp hạ huyết áp.

Hành: Hành rất có lợi đối với người tăng huyết áp. Hãy dùng hành với các món: hành ngâm dầu ăn, hành xào cần tây… Hiệu quả trên huyết áp của hành cũng dễ hiểu bởi nó là “anh em họ” với tỏi.

Đậu Hà Lan và đậu xanh: Là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người tăng huyết áp. Hằng ngày nên dùng giá đậu Hà Lan 1 nắm rửa sạch rồi ép lấy nước uống, hoặc dùng làm rau ăn thường xuyên. Dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới ăn; hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột, ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống tăng huyết áp.

Cà rốt: Cà rốt có nhiều chất xơ và một phức hợp các chất có lợi cho huyết áp. Nếu uống 100ml nước ép cà rốt tươi, hai lần mỗi ngày trong 30 ngày sẽ thấy được tác dụng làm hạ huyết áp của nó. Ngoài ra, trong cà rốt còn có một chất bổ mắt là beta-caroten.

Cà chua: Có công dụng thanh nhiệt, giải độc, làm mát máu và hạ áp. Nó là thực phẩm rất giàu vitamin C và P. Nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống, bạn sẽ có khả năng phòng chống tăng huyết áp, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt. Cà chua có thể làm được nhiều món, nhưng người bị tăng huyết áp không nên dùng xốt cà chua (cà chua hộp) vì có nhiều muối.

Gia vị hỗn hợp: Gia vị hỗn hợp như thì là, hạt thì là, kinh giới (họ bạc hà), tiêu đen, húng quế, gừng,… có chứa những hoạt chất có lợi cho huyết áp. Tùy món ăn, hãy chế biến chúng cho hợp khẩu vị.

BS. Nguyễn Hoàng Quân

Tác dụng điều tiết hai chiều của thảo dược

Đông y đã sớm nhận biết về tác dụng tương phản của thuốc. Người xưa gọi đó là “nhất vật nhị khí”, nghĩa là cùng một vị thuốc (nhất vật) mà có thể tạo ra hai khí khác nhau (nhị khí). Mặc dù vậy, cho đến nay hiểu biết về cơ chế của nguyên lý điều tiết hai chiều vẫn còn rất ít. Theo kết quả nghiên cứu gần đây, tác dụng điều tiết hai chiều của thảo dược có thể liên quan đến một số nhân tố như sau:

Trong thuốc có một số thành phần đối kháng

Trong mỗi một vị thuốc thảo dược, có rất nhiều thành phần hóa học khác nhau. Khi trong số những thành phần đó có một số thành phần với tác dụng dược lý tương phản, thì vị thuốc có thể tạo ra những tác dụng điều tiết trái chiều với nhau.

Thí dụ: Trong nhân sâm có nhiều loại saponin khác nhau. Trong đó, saponin loại Rb có tác dụng trấn tĩnh, ức chế thần kinh, còn saponin loại Rg lại có tác dụng kích thích, hưng phấn thần kinh. Do đó, nhân sâm vừa có thể ức chế, lại có thể kích thích hoạt động thần kinh.

Hay như, đương quy có thể tăng co bóp, lại có thể làm giảm co bóp tử cung. Đó là vì trong đương quy có những hợp chất tan trong nước, có tác dụng kích thích tử cung, khiến tử cung tăng co bóp; đồng thời còn có những hợp chất tinh dầu, có tác dụng làm dịu, khiến tử cung giảm co bóp.

Tang diệp dùng liều nhỏ là thuốc phát hãn (ra mồ hôi), dùng liều lớn lại là thuốc chỉ hãn (cầm mồ hôi).

Lượng thuốc với tác dụng điều tiết hai chiều

Đối với thuốc hóa dược, tác dụng của thuốc nói chung tỷ lệ thuận với lượng thuốc sử dụng, liều dùng càng cao thì tác dụng của thuốc càng mạnh. Đối với thuốc thảo dược thì tình hình phức tạp hơn nhiều. Khi các thành phần trong vị thuốc có tác dụng dược lý tương đồng, theo cùng một hướng, thì cường độ tác dụng của thuốc cũng sẽ tỷ lệ thuận với liều sử dụng. Nhưng khi thuốc bao gồm một số nhóm thành phần, với những tác dụng dược lý trái chiều nhau, tình hình sẽ không còn đơn giản như vậy. Vì với liều lượng sử dụng nhất định, tác dụng của các nhóm thành phần có thể triệt tiêu lẫn nhau. Chính vì vậy, đối với một số thảo dược, thường xuất hiện tình trạng “vật cực tắc phản”: tác dụng của liều nhỏ và liều cao trái ngược nhau.

Thí dụ, tang diệp (lá dâu tằm) dùng liều nhỏ là thuốc phát hãn (làm ra mồ hôi), dùng liều lớn là thuốc chỉ hãn (cầm mồ hôi). Kim ngân và liên kiều, dùng liều nhỏ thì đi lên và có tác dụng giải biểu (giải ngoại cảm); dùng liều lớn thì đi xuống và có tác dụng giải độc. Bạch truật sử dụng liều trung bình có tác kiện vị dụng chỉ tả (mạnh dạ dày, cầm tiêu chảy), nhưng khi sử dụng với liều lớn, tới 30g, thì lại có tác dụng thông tiện. Lộc nhung liều bình thường có tác dụng tăng cường sức co bóp cơ tim, liều lớn ngược lại có tác dụng ức chế cơ tim.

Bào chế

Sau khi bào chế, thảo dược không chỉ thay đổi về tính trạng vật lý mà còn biến đổi về thành phần hóa học và tác dụng cũng thay đổi hẳn. Ví dụ như: hoàng kỳ dùng sống (sinh kỳ) có tác dụng làm tăng huyết áp và kháng lợi niệu (giảm tiểu tiện), sao vàng tác dụng sẽ ngược lại: hạ huyết áp và lợi tiểu tiện. Bồ hoàng dùng sống (sinh bồ hoàng) có tác dụng hoạt huyết, sao cháy đen thì lại chỉ huyết.

Phối ngũ với tác dụng điều tiết hai chiều

Trong mỗi phương thuốc, các vị thuốc được phối hợp với nhau theo quy tắc nhất định, gọi là “phối ngũ”. Phối ngũ khác nhau thì tác dụng của thuốc cũng không giống nhau. Thí dụ, quế chi phối hợp với ma hoàng có tác dụng phát hãn giải biểu (làm ra mồ hôi để giải cảm), phối hợp với bạch thược thì lại có tác dụng hòa doanh chỉ hãn (điều hòa doanh huyết và cầm mồ hôi).

Những thầy thuốc giàu kinh nghiệm thường biết cách phối hợp các vị thuốc với nhau một cách khéo léo, để tạo ra tác dụng điều tiết hai chiều. Thí dụ, phương thuốc “Bán hạ bạch truật thiên ma thang” vừa có thể chữa hoa mắt chóng mặt (huyễn vựng) do huyết áp tăng cao, cũng có thể chữa hoa mắt chóng mặt do huyết áp thấp.

Trạng thái cơ thể

Trạng thái cơ thể là điều kiện quan trọng sản sinh ra tác dụng điều tiết hai chiều của thuốc. Trạng thái bệnh lý khác nhau thì tác dụng của thuốc cũng sẽ khác nhau. Thí dụ, đối với người bị tăng huyết áp, nhân sâm có tác dụng làm hạ huyết áp, nhưng đối với người bị huyết áp thấp, nhân sâm lại có thể làm huyết áp tăng đến mức bình thường. Đối với phụ nữ đang mang thai, ích mẫu thảo có tác dụng ức chế đối với tử cung, nhưng với phụ nữ sau khi đẻ ích mẫu thảo lại có tác dụng gây hưng phấn và làm tử cung tăng co bóp.

Trạng thái sinh lý và bệnh lý khác nhau, hiệu quả của thuốc cũng khác nhau.Thí dụ, trong trạng thái sinh lý bình thường (cơ thể khỏe mạnh), vị thuốc hoàng cầm và vị thuốc xuyên tâm liên không có tác dụng giảm thân nhiệt. Nhưng trong trường hợp đang phát sốt, hai vị thuốc nói trên sẽ phát huy tác dụng như thuốc hạ sốt.

Ứng dụng lâm sàng ngày càng mở rộng

Những năm gần đây, tác dụng điều tiết hai chiều của thảo dược còn được ứng dụng trong điều trị các bệnh miễn dịch, giảm đau trong bệnh ung thư, các bệnh tiêu hóa,... Cùng với thời gian, số lượng các ứng dụng của nguyên lý điều tiết hai chiều sẽ ngày càng nhiều.

Lương y THÁI HƯ

Món ăn, bài thuốc từ cải cúc

Theo Y học cổ truyền, rau cải cúc có vị ngọt, hơi đắng, the, thơm, tính hơi mát, lành không độc, có tính năng tiêu thực, lợi trường vị, thanh đàm hỏa, yên tâm khí. Cải cúc có công hiệu chữa trị ho lâu ngày, làm tán phong nhiệt, chữa đau mắt, thường được sử dụng cho các chứng như: ăn kém tiêu, viêm họng, viêm phế quản…

Dùng lá tươi, hoặc đã phơi khô trong mát (âm can) không phơi nắng (làm mất tinh dầu thơm). Xin giới thiệu một số phương thuốc có thể chọn lựa áp dụng khi cần thiết.

Món ăn, bài thuốc từ cải cúc 1

Cải cúc có công dụng chữa ho lâu ngày, tán phong nhiệt. Ảnh: TL

- Chữa ho ở trẻ em: Rau cải cúc 6g (thái nhỏ), cho vào một chút mật ong đem hấp cơm, gạn lấy nước cho trẻ uống nhiều lần trong ngày.

- Chữa chứng ho dai dẳng ở người lớn do lạnh: Rau cải cúc 100 - 150g, phổi lợn 200g thái thành miếng, dùng nấu thành canh ăn cả cái lẫn nước cùng bữa cơm, ăn trong 3 - 4 ngày là 1 liệu trình.

- Chữa tỳ vị hàn: Dạ dày ruột trong tình trạng lạnh, đi ngoài lỏng hoặc tiêu chảy, thì dùng 200g cải cúc nấu canh ăn để giúp làm ôn ấm tỳ vị. Ăn liên tục 3 - 5 ngày.

- Chữa ho đờm, nhức đầu, chóng mặt buồn nôn do tiêu hóa kém, suy nhược, hay lạnh...: Lấy 1/2kg cải cúc, một đầu cá mè to, một ít gừng tươi, một ít rượu, và gia vị. Đầu cá mè rửa sạch, rán cho vàng thơm, cho gừng vào đảo đều rồi tưới rượu lên và lượng nước vừa đủ hầm chín. Cho cải cúc vào nấu đến sôi, nêm nếm gia vị vừa đủ.

- Bổ tỳ, trị hoa mắt, lợi tiểu: Lấy 200g cải cúc, một con cá diếc độ 1/2 kg, một ít rượu, dầu ăn, và các gia vị vừa đủ. Cá diếc làm sạch, bỏ vảy, đem rán vàng, rồi cho rượu vào đảo qua, cho gừng, nước vào tiếp, nấu với lửa nhỏ cho cá chín thì cho cải cúc vào và nấu đến sôi lại, nêm nếm gia vị. 10 ngày là một liệu trình.

- Canh cải cúc cá diếc: Thích hợp sử dụng cho người cao tuổi hoặc trẻ em ăn không tiêu, tiểu tiện ít, mệt mỏi. Nhờ tác dụng của món là bổ tỳ khai vị, trừ đàm thấp, hòa trung, kiện vị, lợi tiểu, làm khỏi ho đờm, gan nóng, hoa mắt, chóng mặt: Lấy cá dếc 500g, cải cúc 150g, rượu, dầu vừng, tiêu, muối vừa đủ. Rán vàng hai mặt cá cho ít rượu vào đảo sơ, cho gừng, sau cho chút nước đun sôi hạ lửa nhỏ đun tiếp cho nhừ cá, rồi cho rau cải cúc vào đun to lửa cho sôi nhào là được. Có điều kiện nên ăn một thời gian 10 - 15 ngày là một liệu trình.

BS.Lê Hoài Nam

Thuốc tốt từ quả cam

Quả cam là một trong những loại trái cây quen thuộc có chứa tinh dầu mang mùi thơm và nhiều vitamin C, rất mát và bổ dưỡng cho cơ thể. Ngoài...