Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thăng ma

Nước ta hiện chưa trồng được cây thăng ma mà phải nhập từ Trung Quốc. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ. Theo Đông y, thăng ma có vị ngọt, cay, hơi đắng, tính hơi hàn, vào các kinh tỳ, vị, phế và đại trường. Có công hiệu tán phong, giải độc, làm cho dương khí thăng lên, thấu ban, sởi… Chủ trị chứng dịch thời khí, chướng khí, nhức đầu, đau cổ họng, lên ban sởi, sang lở, tiêu chảy kéo dài, trúng độc gây đau bụng, sốt rét, lòi dom, phụ nữ băng huyết, bạch đới. Liều sử dụng trung bình cho các dạng thuốc sắc hay súc miệng là 4 – 10g mỗi ngày. Lưu ý: không dùng khi trên thịnh, dưới hư hay âm hư hỏa vượng.

Thăng ma - Vị thuốc trị đau răng 1Thăng ma tán phong giải độc, là vị thuốc trị đau răng hiệu quả.

Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc trị đau răng từ thăng ma để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Đau răng do thực hỏa (Thực hỏa nha thống):

- Tà tại phần huyết (sưng đỏ có xuất huyết): thăng ma 3g, xuyên hoàng liên 3g, đơn bì 10g, sinh địa hoàng 15g, đương quy 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

- Nếu tà tại phần khí (sưng không xuất huyết): dùng thăng ma 3g, xuyên hoàng liên 3g, đơn bì 10g, sinh địa 15g, đương quy 15g, kinh giới tuệ 9g, phòng phong 9g, tế tân 3g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần trong ngày.

- Do trường vị tích nhiệt (chỗ sưng lở loét): dùng sinh đại hoàng 6g, huyền minh phần 6g (hòa vào thuốc sau), thạch cao 20g, liên kiều 10g, hoàng cầm 6g, chi tử 6g, bạc hà 3g, cam thảo 1g, thăng ma 2g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

Đau răng do hư hỏa (hư hỏa nha thống): sinh địa 20g, thục địa 20g, huyền sâm 40g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Hoặc sử dụng phương lục vị: thục địa 80g, sơn dược 40g, sơn thù nhục 40g, phục linh 30g, đơn bì 30g, trạch tả 30g. Tất cả tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g chiêu với nước muối nhạt.

Đau răng do phong nhiệt (Phong nhiệt nha thống): khương hoạt 5g, độc hoạt 5g, phòng phong 3g, xuyên khung 3g, tế tân 1,5g, bạc hà 3g, sinh địa 9g, hoàng cầm 5g. Sắc uống khi đi ngủ, ngày 1 thang, chia 2 lần.

Đau răng do sâu (Trùng chú tác thống): dùng phương định thống tán gồm đương quy 6g, sinh địa 9g, tế tân 3g, can khương 3g, bạch chỉ 9g, liên kiều 9g, khổ sâm 6g, xuyên tiêu 3g, hoàng liên 5g, cát cánh 3g, ô mai 9g, cam thảo 5g, sắc lấy nước ngậm nuốt dần dần. Ngày 1 thang, ngày ngậm nuốt từ 2 - 3 lần.

BS. Hoàng Xuân Đại

Thông thảo: lợi sữa, chống phù nề

Thông thảo là phần lõi trắng giữa thân cây Thông thảo [Tetrapanax papyriferus (Hook) K Koch., họ Ngũ gia bì (Araliaceae)]. Thông thảo chứa protein; chất béo; chất xơ; pentosan; uronid. Khi thủy phân cho glucose, xylose, D-galacturonic, galactose,... Tác dụng chống viêm nề, lợi sữa. Theo Đông y, thông thảo vị ngọt nhạt, tính hàn; vào kinh phế và vị. Có tác dụng tả phế lợi thủy, lợi sữa. Dùng trị các chứng lâm, thấp ôn, viêm đường tiết niệu, phù nề, phụ nữ sau đẻ thiếu sữa. Liều dùng, cách dùng: 4-16g dưới dạng sắc, nấu, hầm.

Thông thảo được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Hành khí, thông sữa, trị tắc và thiếu sữa sau khi đẻ:

Thông thảo 8g, vảy tê tê 8g, chân giò lợn 1 đôi, xuyên khung 6g, cam thảo 4g. Cho tất cả vào nồi hầm nhừ; ăn chân giò và nước hầm.

Dùng ngoài: Lấy nước luộc hành rửa bầu vú, rửa nhiều lần.

Lợi niệu thông lâm, trị các chứng bệnh thấp nhiệt, thủy thũng, đái dắt

Bài 1 - Thang thông thảo: thông thảo, cù mạch, thiên hoa phấn, liên kiều mỗi vị 12g; bạch chỉ, sài hồ, thanh bì, xích thược, cát cánh mỗi vị 8g, cam thảo 4g, Sắc uống. Trị tiểu tiện nhỏ giọt.

Bài 2 - Thuốc thông sa: thông thảo, hạnh nhân, màng mề gà, hạt củ cải mỗi vị 12g; hậu phác, mộc thông, trần bì mỗi vị 8g, hải kim sa 16g. Sắc uống. Trị cổ trướng (bụng trướng to), bí tiểu tiện.

Bài 3: thông thảo, cù mạch, liên kiều mỗi vị 12g; mộc thông 8g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị nhiễm khuẩn niệu đạo.

Bài 4: thông thảo 8g, đại phúc bì 12g, phục linh bì 16g. Sắc uống. Trị viêm thận cấp, thủy thũng, tiểu tiện ít.

Một số món ăn thuốc có thông thảo:

Chân giò hầm thông thảo: chân lợn đen 1 đôi, thông thảo 4g, có thể thêm 2-4g nhân sâm. Chân lợn làm sạch chặt nhỏ, hầm với thông thảo, nhân sâm. Ăn trong ngày. Dùng cho sản phụ sau đẻ ít sữa.

Nước hồ lô căn thông thảo trần bì: thông thảo 6g, sinh lô căn 30g, trần bì 2g, gạo tẻ 60g. Tất cả nấu thành cháo loãng cho uống. Dùng cho các trường hợp nôn thổ, nôn khan sau khi bị bệnh đường ruột, thương hàn.

Kiêng kỵ: Người không bị thấp nhiệt hoặc đi tiểu nhiều, dùng phải thận trọng. Phụ nữ có thai cấm dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Cây đơn buốt chống viêm

Đơn buốt thuộc loại cây thân thảo, dẹp màu xanh phân nhánh chia đôi như càng con cua nên có tên gọi là cây càng cua. Có hoa đỏ hay tím, tía ở ngọn. Rau đơn buốt có nhiều loại nhưng loại có hình ảnh dưới đây thường được dùng trong chế biến món ăn và làm thuốc. Là loại rau giàu dinh dưỡng đặc biệt beta-caroten (tiền vitamin A) nên thường được chế biến thành nhiều món ăn dân dã bổ dưỡng. Theo đông y rau đơn buốt vị hơi chua đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân, giải độc, khu phong, hoạt huyết, tan máu ứ. Xin giới thiệu một số cách dùng rau đơn buốt trị bệnh trong dân gian.

- Chữa ghẻ lở: Rau đơn buốt giã nát, vắt lấy nước, bổ sung chút muối và chấm vào vết thương là da sẽ mau lành.

- Trị sốt rét, đau đầu: Nghiền lá ra để đắp.

- Trị đau bụng: Lấy dịch lá uống.

- Trị bỏng da do lửa hay bị bỏng nước sôi: Rau đơn buốt vò nát đắp lên da.

- Chữa viêm xoang, viêm mũi dị ứng: Dùng khoảng 15 đốt cành cây đơn buốt, cắt nhỏ từng đoạn 5mm, cho vào túi nilon đập nát rồi cho vào ấm có vòi với lượng nước vừa đủ, đun sôi, dùng giấy cuộn thành ống lắp vào đầu vòi, cho vào mũi để hít hơi nước, hơi thuốc vào mũi, thỉnh thoảng hít cả vào miệng. Thời gian xông 10 – 15 phút. Xông liên tục 3 – 5 ngày, bệnh nặng có thể xông 7 – 10 ngày. Cần chú ý không dùng cho phụ nữ có thai.

- Chữa côn trùng, ong đốt, rắn cắn, bò cạp đốt: Dùng cành cây đơn buốt giã nhỏ, đắp lên các tổn thương.

- Chữa chấn thương, đau nhức: Dùng cành cây đơn buốt giã nhỏ, băng đắp lên tổn thương ở cơ bắp, khi khô lại dùng rượu nhạt nhỏ thêm vào bã thuốc.

- Chữa mụn cơm: Dùng nhựa mủ cây đơn buốt đắp lên mụn cơm.

Lưu ý: Trong khi sử dụng không được để nhựa mủ cây thuốc này bắn vào mắt.

BS. Hoàng Xuân Đại

Các loại quả họ cam làm thuốc

Các cây họ cam là loại cây trồng phổ biến ở nước ta, đã trở thành đặc sản, như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phú Diễn, bưởi Năm Roi, cam Bố Hạ, cam Canh… Các cây họ cam không những là các cây ăn quả, làm cảnh như quất mà còn là các cây làm thuốc có giá trị.

Chỉ thực là quả còn non của cây cam ngọt hoặc cam chua. Theo Đông y, chỉ thực có vị đắng tính hàn, có tác dụng tiêu tích trệ ở đường tiêu hóa, được dùng khi bụng đầy trướng, ăn uống khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, đại tiện bí kết, lỵ lâu ngày. Có thể tán bột mịn, mỗi ngày uống 4 - 12g, chiêu với nước cơm. Hoặc uống kèm với binh lang (hạt cau, thái nhỏ, sao vàng), đồng lượng. Khi đại tràng thực nhiệt dẫn đến táo bón nặng, gây đau tức, có thể phối hợp chỉ thực với đại hoàng, hậu phác mỗi vị 12 g, mang tiêu (natri sunphat) 16 g. Sau khi sắc ba vị thuốc trên, rồi hòa tan mang tiêu vào uống ấm. Nếu táo ở mức độ vừa thì bỏ mang tiêu.

Trần bì là vỏ quýt chín.

Chỉ xác là quả thuộc loại bánh tẻ của cây cam chua. Theo Đông y, chỉ xác có vị chua, tính hàn, nhưng công năng phá khí mạnh hơn chỉ thực, do đó được dùng khi có nhiều đờm, gây khó thở, tức ngực, phối hợp với viễn chí, bán hạ, mạch môn, đồng lượng, dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang. Những trường hợp tiêu hóa kém, bụng đầy trướng, táo bón cần phối hợp với đại hoàng.

Thanh bì là vỏ quả còn xanh của cây quýt. Theo Đông y, thanh bì có vị đắng, cay, tính ấm. Có công năng giảm đau, dùng khi can khí bị uất kết, dẫn đến đau sườn ngực, đau dây thần kinh liên sườn, phối hợp với hương phụ, uất kim (dánh củ nghệ), đồng lượng. Trường hợp bị sán khí, đau tức ở vùng bụng dưới, như đau tử cung, buồng trứng của phụ nữ hoặc viêm đau tinh hoàn ở nam giới, dùng thanh bì, phối hợp với tiểu hồi, mộc hương, đồng lượng, sao vàng, tán bột, uống với nước ấm, ngày 2-3 lần, mỗi lần 8 -10 g Trẻ em, tùy theo tuổi, giảm lượng.

Trần bì là vỏ quả quýt đã chín, phơi khô, để lâu. Theo Đông y, trần bì có vị đắng, cay, tính ấm, với công năng hành khí, hòa vị, phối hợp với bạch truật, can khương để trị đau bụng, trướng bụng, ợ hơi, buồn nôn. Trần bì còn có tác dụng hóa đàm chỉ ho, chỉ nôn, được dùng khi ho, nhiều đờm, lồng ngực trướng tức, khó thở, buồn nôn, phối hợp trần bì 8g với bán hạ (chế), bạch linh, mỗi vị 12g, cam thảo 4g, dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang, uống ấm.

Vỏ bưởi phơi khô, khi dùng thái mỏng, sao vàng. Để trị đau dạ dày, có thể dùng vỏ bưởi đào, dạ cẩm, trần bì, đồng lượng, tán bột mịn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g. Để chữa phù thũng, dùng vỏ bưởi phối hợp với mộc thông, mỗi vị 12g, đăng tâm thảo 8g, sắc uống, ngày một thang.

Quả và hạt quất

Quả quất chín, thái lát, thêm đường phèn, hoặc mật ong, trấp trên mặt nồi cơm, có tác dụng chữa ho trừ đờm tốt.

Hạt quất cũng là vị thuốc chữa ho, cách làm như quả quất, song nghiền ra, vắt lấy dịch cho uống riêng. Trường hợp bị sán khí, đau tức ở vùng bụng dưới, như đau tử cung, buồng trứng của phụ nữ hoặc viêm đau tinh hoàn ở nam giới, có thể dùng hạt của quả quýt phối hợp với tiểu hồi, lệ chi hạch (hạt quả vải, gọt bỏ vỏ đỏ bên ngoài, thái mỏng), đồng lượng. Cả 3 vị thuốc đem sao vàng, tán bột mịn, uống với nước ấm, ngày 3 lần, mỗi lần 8 – 10g.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Giá đậu, vị thuốc kỳ diệu

Giá đậu là một nhóm rau mầm làm từ các loại đậu: đậu xanh, đậu đỏ, đậu vàng (đậu tương) đậu đen, đậu nâu (đậu phộng/lạc). Nói chung ở dạng mầm giá sẽ có lượng chất bổ mà ở dạng hạt không có.

Giá đậu xanh

Giá đậu xanh được dùng nhiều nhất để ăn và làm thuốc. Giá đậu xanh dùng an toàn hơn cả, vì dễ tiêu hóa, chữa được nhiều bệnh và đặc biệt ở tính chất giải độc đa năng nội ngoại sinh. Giá đậu xanh có đủ các chất dinh dưỡng (đạm béo đường, vitamin, khoáng) đặc biệt là nhiều vitamin C và E, phytosterol, cho lượng calo thấp. Thường được dùng cho người bị viêm thanh quản mất tiếng, vận động thể thao bị mỏi cơ, người béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, cholesterol máu cao, hiếm muộn, dễ sẩy thai, còn có tác dụng khử gốc tự do, chống lão hóa,…

Giá đậu, vị thuốc kỳ diệu 1

Giá đậu là thực phẩm bổ dưỡng và là vị thuốc chữa nhiều bệnh.

Giá đậu nành (đậu tương)

So với hạt thì giá đậu tương có vitamin B2 gấp 2-4 lần, B12 gấp 10 lần, C gấp 40 lần, caroten (tiền sinh tố A) gấp 2-3 lần, vitamin nhóm B tăng 30 lần. Giá đậu nành chứa nhiều protein và protein này rất tốt để thay thế cho protein động vật vì ít chất béo, đặc biệt trong mầm đậu tương chứa chất isoflavones tương tự kích tố nữ estrogen để phòng chữa một số bệnh đặc biệt là sức khỏe phụ nữ, giảm các nguy cơ bệnh tim, loãng xương và duy trì thời xuân sắc cho phụ nữ…

Giá đậu được dùng làm thuốc trong những trường hợp sau:

Viêm họng, ho khan, tiểu ít: sắc giá đậu tương với ít trần bì (vỏ quýt lâu năm) để ngậm, uống.

Dạ dày tích nhiệt: giá đậu tương 500g, tiết lợn sống 500g. Nấu canh ăn.

Hạ mỡ máu, chống béo, hạ huyết áp, chữa suy nhược: giá đậu tương 250g, đậu phụ 200g, dưa cải 100g, dầu đậu tương, gia vị. Xào giá rồi cho nước đun sôi, cho giá chín, tiếp cho đậu phụ dưa cải, hầm kỹ để ăn.

Phụ nữ có thai, tăng huyết áp: dùng giá đậu tương đun kỹ lấy nước uống nóng. Ngày 2 lần.

Da khô, nếp nhăn, đồi mồi: giá đậu tương khô 500g rang tán nhỏ mịn trộn ít rượu trắng. Uống 3g mỗi lần. Ngày 3 lần liên tục 3 tháng.

Hỗ trợ điều trị ung thư: nấu giá đậu tương với cam thảo uống nâng cao hiệu quả các trị liệu ung thư, giảm thiểu độc hại của hóa trị, xạ trị.

Giá đậu đen

Giá đậu đen có vị ngọt, tính bình, không độc. Trị chứng tê thấp, gân co rút, trừ hơi nóng trong dạ dày. Bổ khí, nhuận da, mạnh cả ngũ tạng. Ngày dùng 20-60g hoặc nhiều hơn.

Trị phong hàn, gió độc, tà khí phạm vào huyết mạch gây phù, nặng nề, tê dại, đau nhứ cơ khớp: giá đậu đen 500g, sao thơm tán mịn. Mỗi lần dùng 10g với ít rượu nóng. Ngày 3 lần.

Trị phù thũng, thở nhanh yếu, đại tiểu tiện ít, khó đi: giá đậu đen sao giấm 1 phần. Đại hoàng sao 1 phần. Tán mịn mỗi lần uống 8g với nước trần bì sắc đặc. Ngày 2 lần. Thấy đại tiểu tiện đã thông thì thôi uống.

Trị phong thấp tê, gân co rút, đau gối nhức, bụng nóng, đại tiện táo: giá đậu đen 100g tẩm giấm sao vàng tán mịn. Mỗi lần uống 1 muỗng với ít rượu trước khi ăn. Ngày 2-3 lần.

Giá đậu đỏ

Chữa phù nề: Canh chua đầu cá chép với giá đậu đỏ.

Lưu ý: Giá là loại rau sạch nếu được sản xuất theo quy trình cổ điển. Cần cảnh giác với loại giá bằng cách ướp những chất kích sinh (có độc) để nhanh tạo ra giá mập, đẹp mắt.

BS. Phó Thuần Hương

Cách đơn giản trị vết thương phần mềm với cây sắn thuyền

cây sắn thuyền Cây sắn thuyền. Ảnh: TL

Sắn thuyền còn có tên khác là sắn xàm thuyền, là cây nhỡ, thân thẳng đứng, có thể cao tới 15m. Cành mảnh và dài. Lá mọc đối từng đôi, phiến lá hình bầu dục. Hoa mọc thành chùm ở nách lá. Quả xếp từng chùm, khi chín có màu tím đỏ, có vị ngọt, chát chát.

Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta, lấy lá non và quả ăn, lấy vỏ để xàm thuyền và phối hợp với củ nâu để nhuộm lưới. Bộ phận dùng làm thuốc là lá và vỏ cây. Theo y học cổ truyền, sắn thuyền có vị đắng chát, tính mát; có tác dụng thu sáp, kháng khuẩn, tiêu viêm, làm lành vết thương.

Điều trị vết thương phần mềm, chống nhiễm trùng: Sau khi rửa sạch vết thương lấy lá sắn thuyền tươi, bỏ cọng, rửa sạch, giã nhỏ đắp lên vết thương, băng lại. Hai ngày thay băng một lần. Hoặc lấy lá sắn thuyền, bỏ cọng, phơi khô, giã nhỏ, rây mịn, khi dùng rắc lên vết thương, không phải băng. Về mùa hè dùng dạng bột tốt hơn vì rắc được khắp kẽ vết thương; vết thương không băng kín nên thoáng, chóng lành.

Chữa tiêu chảy: Lá sắn thuyền 50g, hoa chuối tiêu 1 cái, nam mộc hương 100g, sắn dây 150g, hạt dành dành 100g. Mộc hương đem tán sống, sắn dây, sắn thuyền sao giòn tán bột. Hoa chuối tiêu thái mỏng phơi khô, để một đêm phơi sương, sao giòn, tán bột. Lấy các thứ bột trộn lại, rây mịn. Người lớn cho dùng 100g/ngày chia làm 2 lần uống. Trẻ em tùy tuổi từ 50g/ngày chia 2 lần uống

Chữa bạch đới: Vỏ sắn thuyền 30g, búp ổi 30g, rễ cỏ tranh 30g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống 5 - 7 ngày.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nga

Rau bầu đất chữa viêm họng, thấp khớp

Theo Đông y, bầu đất có vị cay, ngọt, thơm, hơi đắng, tính bình, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, tán ứ tiêu thũng, chỉ khái. Dùng trị viêm họng, viêm khí quản mạn, phong tê thấp khớp, xương đau nhức, chấn thương sưng đau, ho gió, ho gà, ho lao, ngã thương, sưng vú, nhọt độc, ngứa loét, bong gân, loét dạ dày, táo bón, viêm đại tràng, điều hòa máu huyết, an thần, giảm đau, trị nhức đầu, chóng mặt, cầm máu, điều hòa huyết áp, điều hòa kinh nguyệt, giải độc... Sau đây là một số cách dùng rau bầu đất trị bệnh.

Chữa chứng còi xương, ra mồ hôi trộm ở trẻ em: thường dùng lá và ngọn non nấu canh cua.

Chữa đái dầm ở trẻ: nấu canh rau bầu đất cho trẻ ăn hàng ngày vào buổi trưa.

Chữa mất ngủ: thường xuyên ăn sống bầu đất hoặc xào hay nấu canh ăn, sẽ có tác dụng an thần, điều hòa máu huyết, giúp có giấc ngủ tốt.

Rau bầu đất (kim thất) trị viêm họng, viêm khí phế quản mạn, đau nhức xương khớp...

Chữa viêm phế quản mạn: nấu canh rau bầu đất với thịt lợn nạc hoặc tôm tươi ăn với cơm trong nhiều ngày.

Chữa viêm họng, ho gió, ho khan hoặc có đờm:nhai vài lá rau bầu đất, ngậm nước nuốt dần.

Chữa tiểu dắt, tiểu buốt: sắc rau bầu đất chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10-15 ngày.

Chữa táo bón, kiết lỵ: giã một nắm rau bầu đất rồi hòa với 100ml nước sôi để nguội, chia làm 2 phần uống vào buổi sáng và chiều, trong 5-6 ngày.

Chữa khí hư, bạch đới:

Ăn canh rau bầu đất: rau bầu đất 20g, rễ củ gai sao vàng 15g, cỏ xước 15g, kim ngân hoa 12g, cam thảo đất 16g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần.

Hoặc sắc nước uống với bột thổ tam thất và ý dĩ sao, với liều bằng nhau, mỗi lần 10-15g, ngày uống 2 lần.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: nhai nuốt mỗi lần 7-9 lá rau bầu đất, ngày 2 lần sáng, chiều, có tác dụng điều hòa lượng đường trong máu rất rõ rệt. Không gây phản ứng phụ. Có thể kết hợp với các vị thuốc trị đái tháo đường khác.

Chữa vết thương:

Chảy máu: Dùng rau bầu đất rửa sạch đắp, buộc vào vết thương giúp cầm máu và bớt viêm sưng, đau nhức.

Chữa va đập bầm tím: Giã nát một nắm rau bầu đất và vài hạt hồ tiêu rồi đắp vào vết thương, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.

Chữa va đập bầm tím: Giã nát một nắm rau bầu đất và vài hạt hồ tiêu rồi đắp vào vết thương, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.

Kinh nghiệm trong nhân dân còn dùng bầu đất chữa mất ngủ, nhức đầu, chóng mặt, đau xương khớp, chấn thương, loét dạ dày, viêm đại tràng, điều hòa kinh nguyệt, huyết áp, giải độc, sưng vú, lợi tiểu tiêu thũng, ho gà, ho lao.

Ngoài cây bầu đất, còn có nhiều loài khác cùng chi cũng được sử dụng làm rau ăn, thường dùng nấu canh, như cây cải kim thất hay rau lúi - Gynura barbaraefolia Gagnep., cải giả - Gynura nitida DC và cây rau tàu bay.

BS. Đức Thuần

Củ riềng: ôn trung tán hàn, mạnh tỳ vị

Riềng là loại cây gia vị và làm thuốc. Về mặt ẩm thực, riềng luôn được nhắc tới với những món như: thịt dê nộm, thịt chó nhựa mận, chân giò nấu chuối xanh, cá kho đồng… Theo y học cổ truyền, riềng tính ấm, tác dụng ôn trung tán hàn, giảm đau trừ thấp, kiện tỳ vị, là vị thuốc tốt đối với những trường hợp tỳ vị hư hàn có biểu hiện: đau bụng âm ỉ, đầy bụng phân lỏng, ăn uống rất ít, chân tay yếu mềm, cơ thể suy nhược… Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ củ riềng.

Tỳ vị hư hàn, đau bụng sôi bụng, đại tiện phân lỏng: riềng 12g, bạch truật 12g, lá lốt 16g, lá ổi 16g, sinh khương 6g. Cho các vị vào ấm đổ 3 bát nước sắc lấy 1,5 bát. Chia uống 2 - 3 lần trong ngày.

Trẻ em bị tiêu chảy nhiều lần, phân có lẫn bọt, quấy khóc: hoài sơn 10g, liên nhục 10g, củ riềng 6g, bạch truật 10g, biển đậu 10g, hậu phác 4g, trần bì 6g, chích thảo 6g, sinh khương 4g. Cho các vị vào ấm đổ nước 2 bát, sắc còn 1 bát, chia 2 - 3 lần uống trong ngày.

Cây và củ riềng

Ngộ độc thức ăn, đau bụng, nôn mửa, có những trường hợp đau bụng dữ dội kèm theo đại tiện lỏng, cơ thể có biểu hiện mất nước, rối loạn điện giải, mạch nhanh, huyết áp dưới mức bình thường: củ riềng 16g, hoàng liên 10g, biển đậu 12g, bạch truật 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, sinh khương (nướng) 10g, thảo quả 10g, quế 6g, chích thảo 10g, bán hạ chế 8g. Cho các vị vào ấm, đổ nước 3 bát, sắc còn 1,5 bát, chia 3 lần uống (cách 2 giờ uống 1 lần).

Chữa chứng “Ngũ canh tả” cứ khoảng 5 giờ sáng là cần đi ngoài, khi muốn đi thì phải đi ngay, không ngừng lại được, phân lỏng, cơ thể yếu mệt, bụng lạnh, chân tay lạnh. Nguyên nhân do tỳ thận dương hư. Dùng bài thuốc: củ riềng phơi khô 16g, cẩu tích 12g, ngũ gia bì 12g, sơn thù 12g, hoài sơn 16g, cố chỉ 10g, đỗ trọng (sao muối) 12g, khởi tử 10g, bạch truật (sao hoàng thổ) 16g, hậu phác 12g, bán hạ chế 10g, trần bì 10g, sinh khương 6g, quế 10g, chính thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang, 10 - 12 ngày là một liệu trình.

Bài thuốc xoa bóp:

Củ riềng phơi khô 20g, thiên niên kiện 16g, quế 24g, thạch xương bồ 20g, trần bì (sao) 16g, nhân hạt gấc (sao vàng) 20g. Các vị thái nhỏ, bỏ vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm. Sau 10 ngày là có thể dùng được. Lấy bông tẩm vào thuốc, xoa vào chỗ đau, kết hợp day, bấm, nhẹ.

Dùng trong những trường hợp đau xương đau mình trật ngã, sang chấn, sưng đau các khớp, thần kinh tọa, đau nhức cục bộ…

Lương y: Ngọc Anh

Bồ kết

cây bồ kết Cây, quả và gai bồ kết.

Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, quả bồ kết có tên thuốc là tạo giác, có vị cay, mặn, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thông khiếu, hắt hơi, sát khuẩn, khử đờm, tiêu thũng, được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa viêm xoang, ngạt mũi, khó thở: Bồ kết 1 quả, đốt cháy lấy khói xông vào hai lỗ mũi. Ngày làm vài lần.

Chữa trúng phong, cấm khẩu, hôn mê bất tỉnh: Quả bồ kết 40g, giun đất 40g, lông nhím 20g, đốt thành than. Mỗi lần uống 4 - 8g với nước ấm. Ngày hai lần. Kết hợp lấy quả bồ kết và lá bạc hà (lượng bằng nhau) phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, thổi vào mũi để gây hắt hơi làm bệnh nhân tỉnh lại.

Chữa ho nhiều đờm, hen suyễn, thở khò khè: Quả bồ kết 1g, quế chi 1g, sinh khương 1g, cam thảo 2g, đại táo 4g. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.

Chữa đau nhức răng, sâu răng: Quả bồ kết để sống hoặc đốt tồn tính, tán nhỏ, đắp vào chân răng, khi nước bọt chảy ra thì nhổ đi, không được nuốt. Hoặc bồ kết 1 quả để cả hạt, nướng cho hơi cháy vỏ ngoài, nghiền nhỏ cùng với diêm sinh lấy từ 10 đầu que diêm. Ngâm với rượu trắng cho thật đặc trong 2 - 3 ngày. Muốn có thuốc dùng ngay, đun dung dịch nhỏ lửa trong vài phút. Khi dùng, nhấp ít một dung dịch ngâm trên, ngậm vào chỗ răng đau trong 10 - 15 phút rồi nhổ đi. Ngày làm 2 - 3 lần.

Chữa nhọt mủ: Quả bồ kết và qủa bồ hòn lượng bằng nhau đốt thành than, tán bột mịn, trộn với bồ hóng bếp (bằng nửa lượng của 2 vị trên) và nhựa thông vừa đủ để thành một hỗn hợp nhão nhuyễn, rồi phết lên giấy làm cao dán.

Chữa lở ngứa, chảy nước vàng: Bồ kết 20g, chua me đất hoa vàng 30g, nấu nước xông và rửa chỗ bị bệnh. Ngày 1 lần.

Gai bồ kết được thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào tháng 9 - tháng 3. Nước sắc gai bồ kết được nghiên cứu dược lý bằng phương pháp khuếch tán thuốc trong môi trường nuôi cấy có tác dụng ức chế tụ cầu khuẩn vàng.

Khi dùng, ngâm gai vào nước cho mềm, cắt dọc thành miếng vát mỏng, phơi hoặc sấy khô, để sống hoặc đốt tồn tính. Dược liệu có tên thuốc là tạo giác thích, có vị cay nhẹ, tính ấm, không mùi, có tác dụng chống viêm, sát khuẩn, tiêu ung độc, thông ứ.

Chữa viêm mũi, tắc nghẹt: Gai bồ kết nướng tán nhỏ mịn, thổi hoặc hít bột vào lỗ mũi. Ngày làm vài lần. Hoặc gai bồ kết 10g, thạch xương bồ 10g, rễ hoa kinh giới 5g, tán thành bột, gói vào một miếng vải mỏng, rồi nhét vào lỗ mũi, nằm ngửa một lúc mũi sẽ thông.

Chữa mụn nhọt, đầu đinh: Gai bồ kết 10g để sống, hạt đỗ đen 20g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.

Chữa kiết lỵ ra máu mũi lâu ngày: Gai bồ kết và hoa đào để sống, phơi khô; chỉ thực sao với cám. 3 vị với lượng bằng nhau, tán nhỏ mịn, luyện với mật ong làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 viên với nước cơm.

Chữa nha chu viêm (chân răng sưng đau, có thể ra mủ): Gai bồ kết 20g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, ngưu bàng 12g, hạ khô thảo 12g, chi tử 12g, xích thược 8g, xuyên sơn giáp 6g, bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

TTUT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

Tăng tuổi thọ nhờ nấm linh chi

Từ xa xưa, con người đã biết dùng nấm linh chi làm thuốc. “Thần nông bản thảo” xếp linh chi vào loại siêu thượng phẩm hơn cả nhân sâm, dùng lâu ngày giúp cơ thể nhẹ nhõm, tăng tuổi thọ (khinh thân bất lão diên niên ích thọ) nên dân gian rất ưa chuộng. “Bản thảo cương mục” coi linh chi là loại thuốc quý, có tác dụng bảo can (bảo vệ gan), giải độc, cường tim, kiện não (bổ óc), tiêu đờm, lợi niệu, ích vị (bổ dạ dày). Gần đây, các nhà khoa học phát hiện nấm linh chi cũng có tác dụng phòng và chống ung thư, chống lão hóa, làm tăng tuổi thọ.

Linh chi còn có tên chi thảo, nấm lim, nấm thần tiên, nấm trường thọ... Dựa vào màu sắc, có 6 loại: thanh chi (màu xanh); hồng chi hay xích chi, đơn chi (màu hồng); hoàng chi hay kim chi (màu vàng); bạch chi hay ngọc chi (màu trắng); hắc chi hay huyền chi (màu đen); tử chi (màu tím). Nấm linh chi chứa sterol, enzym, protid, đường, acid béo, triterpen, polysaccharid và các nguyên tố vô cơ. Theo Đông y, thanh chi tính bình, không độc, có tác dụng bổ can khí, cường khí, an thần, sáng mắt, tăng trí nhớ, chữa viêm gan cấp và mạn tính; xích chi vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, chữa các bệnh về huyết và thần kinh, tim; kim chi vị ngọt, tính bình, không độc, làm mạnh hệ miễn dịch; huyền chi vị mặn, tính bình, không độc, chữa các bệnh ở cơ quan bài tiết, trị bí tiểu tiện, sỏi thận; ngọc chi vị cay, tính bình, không độc, tác dụng bổ ích phế khí, chữa hen; tử chi vị ngọt, tính ôn, không độc, chữa đau nhức xương khớp. Công năng chủ trị: Bổ khí dưỡng âm, bổ tâm an thần, cố thể kiện thân (bảo vệ, tăng cường sức khỏe); Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, đau đầu chóng mặt, hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ quên lẫn, ù tai điếc tai, đau lưng mỏi gối, hen suyễn, viêm khí phế quản, viêm gan, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tăng mỡ và cholesterol trong máu, giảm bạch cầu, bệnh tiểu đường, người cao tuổi, cơ thể suy nhược, mệt mỏi, tiêu hoá kém... Liều dùng, cách dùng: 8 - 15g; nấu hãm, ngâm rượu.

Nấm trường thọ 16 loại nấm linh chi

Món ăn - bài thuốc bổ dưỡng và chữa bệnh có linh chi:

- Gà linh chi: Linh chi 15g, gà trống tơ 1 con. Linh chi rửa sạch, thái lát, gà làm sạch, bỏ ruột, cho gừng và hành tươi thái lát cùng các gia vị thích hợp. Đem gà và một nửa số linh chi, gừng, hành thêm muối, nước, gia vị nấu chín. Vớt gà ra; cho vào chảo có dầu vừng và đun. Phần linh chi còn lại sắc lấy nước, thêm đường phèn, bột ngọt và cô lại; lấy nước này rưới đều lên gà trong chảo có dầu đến khi da bì gà đỏ tươi là được. Chia ăn 1 - 2 bữa trong ngày.

Hoặc: Gà làm sạch bỏ ruột, linh chi thái nghiền vụn gói vải xô cho trong bụng gà, đem hầm cách thủy, khi gà chín, bỏ bã thuốc, thêm gia vị ăn, chia ăn nhiều lần trong ngày; Dùng cho các trường hợp suy nhược sau đẻ, sau bệnh nặng dài ngày, bà mẹ nuôi con ít sữa, người cao tuổi.

- Trà linh chi: linh chi 9g, nấu hãm uống như nước trà. Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, đau đầu chóng mặt, hồi hộp mất ngủ, sút giảm trí nhớ ở người cao tuổi, người bị yếu mệt do bệnh lâu ngày.

- Nước sắc linh chi, trần bì, bách hợp: linh chi 10g, bách hợp 10g, trần bì 8g. Sắc nước hoặc pha hãm, chia nhiều lần uống trong ngày. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, hen suyễn, ho gà.

- Linh chi tán: linh chi rang sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 3g, chiêu với nước trà hoa cúc. Dùng cho các trường hợp viêm gan cấp, viêm gan mạn, đau quặn vùng gan mật, tăng các men hoạt tính SGOT, SGPT.

- Rượu linh chi: linh chi 100g, rượu trắng 500ml. Linh chi rửa sạch, thái lát, ngâm với rượu, sau 7 ngày là dùng được. Mỗi ngày uống 2 lần (sáng, tối), mỗi lần 15ml. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, ăn kém, ít ngủ, quên lẫn...

Lưu ý: Khi bị cảm cúm, sốt nóng mới phát, không dùng linh chi.

BS. Nguyễn Tiểu Lan

Củ năng ích khí, hạ áp

Củ năng (còn gọi là củ mã thầy), địa lê... Củ năng có nhiều tinh bột, đạm, chất béo, canxi, photpho, sắt, vitamin A, B1, B2, C. Vị ngọt, tính hàn, củ năng có công dụng ích khí, an trung, khai vị tiêu thực, giải thực nhiệt, sinh tân chỉ khát, dùng chữa tiêu khát, tăng huyết áp, ung thư, vàng da,...

Một số món ăn thuốc từ củ năng

Dùng khi bị sởi, thủy đậu:

Củ năng tươi sống, nhai nhỏ, nếu non nhai nuốt cả nước lẫn cái.

Củ năng mài bột pha nước uống và làm bánh ăn còn giúp tiêu hóa tốt, chữa tích trệ ở trẻ em, nhiều đờm dãi.

Củ năng 60g, cà rốt 60g, hành tây 30g, nước vừa đủ. Nấu kỹ uống thay trà.

Bột củ năng tươi 10 củ nghiền mịn, cơm rượu nếp 100g. Nấu chín ăn ngày 2 lần, liền 7 ngày. Món này thích hợp với người bị sởi, thủy đậu thời kỳ cuối và ngoại cảm phong nhiệt.

Củ năng tươi 10 củ, nước củ cải trắng 500ml, ít đường. Nấu sôi uống nóng, 20ml trong vài ngày. Thích hợp sởi thời kỳ cuối và trường hợp ho khát nước.

Củ năng.

Thanh nhiệt, lợi thủy:

Củ năng 60g, củ cải trắng 150g, gạo 200g. Nấu cháo ăn.

Rau mã thầy 100g, củ mã thầy 100g, nấm hương 50g. Dầu vừng gia vị tùy ý. Xào qua rồi cho nước đun sôi mới cho rau mã thầy rồi cho bột vào sền sệt là được.

Bổ phế thận: củ năng 100g, bầu dục lợn 2 cái, cắt đôi làm sạch. Đường phèn 30g đập nát, 2.000ml nước. Các vị làm sạch đun sôi 25 phút thành canh ăn.

Khử mỡ, hạ áp, tiêu thũng, thanh nhiệt: củ năng 100g, thịt heo nạc 300g, rau cần 200g. Dầu, hành, đường xào chín.

Thanh nhiệt tiêu thũng:

Củ năng 100g, nước canh thịt vịt 500g, đường phèn 30g. Nấu canh ăn.

Củ năng 60g, cá diếc 300g, hành, giấm, đường 20g. Nấu canh ăn.

Củ năng xào các loại thịt, củ năng xào ngó sen... ăn hằng ngày.

Lưu ý:Củ năng tính lạnh nên người tỳ thận hư hàn, trẻ em đái dầm kiêng dùng.

BS. Phó Thuần Hương

Thuốc tốt từ quả cam

Quả cam là một trong những loại trái cây quen thuộc có chứa tinh dầu mang mùi thơm và nhiều vitamin C, rất mát và bổ dưỡng cho cơ thể. Ngoài...